slogan

 
 

topbannerv1

TIN TỨC

Mục XA LỘ THÔNG TIN lần này thông tinhai vấn đề mới và hấp dẫn, được đề cập qua hai nghiên cứu mới được công bố gần đây:

 Đầu tiên là vấn đề gây tranh cãi liệu việc sử dụng liều giảm của Rivaroxaban trên bệnh nhân châu Á bị rung nhĩ không do van tim có đem lại lợi ích gì thêm về mặt an toàn giảm xuất huyết hoặc có ảnh hưởng gì trên hiệu quả phòng ngừa biến cố huyết khối, so với liều tiêu chuẩn của Rivaroxaban?

 Tiếp theo, một vấn đề khác là những bệnh nhân nhập viện vì những bệnh lý nội khoa cấp tính như suy tim, suy hô hấp, đột quỵ, bệnh lý viêm nhiễm… có nguy cơ gia tăng bị biến cố thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE). Theo các guidelines hiện nay, việc dự phòng VTE cho các bệnh nhân này trong giai đoạn nhập viện bằng kháng đông giúp giảm nguy cơ từ 50-60%. Tuy nhiên, sau khi xuất viện, nguy cơ VTE ở những bệnh nhân này vẫn tồn tại hơn 6 tuần và liệu việc dùng kháng đông để dự phòng trong giai đoạn này có mang lại lợi ích?

Hai nghiên cứu vừa được công bố dưới đây sẽ giúp giải đáp phần nào những vấn đề này. Tuy nhiên, cũng xin lưu ý quý độc giả rằng các chỉ định trên nằm ngoài thông tin kê toa đã được phê duyệt bởi Bộ y tế Việt Nam.

 

TÍNH HIỆU QUẢ VÀ AN TOÀN CỦA RIVAROXAN LIỀU CHUẨN VÀ LIỀU THẤP Ở NGƯỜI CHÂU Á BỊ RUNG NHĨ

 

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rivaroxaban liều thấp (10 mg/ngày) đã được sử dụng rộng rãi ở châu Á cho những bệnh nhân bị rung nhĩ (AF), mặc dù còn thiếu những bằng chứng về hiệu quả của nó. Ở người châu Á, không rõ liệu rivaroxaban liều thấp có hiệu quả bằng và nguy cơ chảy máu ít hơn liều chuẩn hay không.

 

MỤC TIÊU

Mục đích của nghiên cứu này là để đánh giá tính hiệu quả và an toàn của liều chuẩn (15 hoặc 20 mg/ngày) và liều thấp (10 mg/ngày) của rivaroxaban ở người châu Á bị AF.

 

PHƯƠNG PHÁP

Sử dụng các file dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu nghiên cứu bảo hiểm y tế quốc gia (National Health Insurance Research Database) từ ngày 1 tháng 5 năm 2014 đến ngày 30 tháng 9 năm 2015, một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu dựa trên dân số như được tiến hành ở những bệnh nhân chẩn đoán cuồng nhĩ hoặc rung nhĩ được điều trị với rivaroxaban liều thấp hoặc liều chuẩn. Bệnh nhân được theo dõi cho đến khi xuất hiện kết cục của nghiên cứu đầu tiên hoặc kết thúc giai đoạn quan sát (ngày 31 tháng 12 năm 2015).

 

KẾT QUẢ

Trong số 6.558 bệnh nhân đủ điều kiện vào nghiên cứu, tổng số 2.373 và 4.185 bệnh nhân tương ứng dùng rivaroxaban liều thấp và liều chuẩn. So với rivaroxaban liều chuẩn, rivaroxaban liều thấp có nguy cơ nhồi máu cơ tim cao hơn (HR 2.26; khoảng tin cậy 95%: 1.13 đến 4.52) nhưng tương đương về nguy cơ đột quỵ thiếu máu, thuyên tắc hệ thống, chảy máu nặng và chảy máu không nặng nhưng có ý nghĩa lâm sàng.

 

KẾT LUẬN

So với rivaroxaban liều chuẩn, rivaroxaban liều thấp ở bệnh nhân Châu Á bị rung nhĩ, ngoại trừ nguy cơ nhồi máu cơ tim, có nguy cơ bị thuyên tắc huyết khối và chảy máu tương tự,.

Nguồndịch: J Am Coll Cardiol. 2018;72(5):477–85

 

RIVAROXABAN TRONG DỰ PHÒNG HUYẾT KHỐI SAU NHẬP VIỆN VÌ BỆNH NỘI KHOA (NGHIÊN CỨU MARINER)

 

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh nhân nhập viện vì bệnh nội khoa vẫn có nguy cơ bị huyết khối tĩnh mạch sau khi xuất viện, nhưng vai trò của dự phòng huyết khối mở rộng trong điều trị những bệnh nhân này vẫn còn là một chủ đề gây tranh cãi.

 

PHƯƠNG PHÁP

Trong thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên mù đôi này, bệnh nhân bị bệnh nội khoa tại mức nguy cơ huyết khối tĩnh mạch tăng dựa trên thang điểm IMPROVE (International Medical Prevention Registry on Venous Thromboembolism) cải tiến ≥ 4 (điểm từ 0 đến 10, với điểm số cao hơn cho thấy nguy cơ huyết khối tĩnh mạch cao hơn) hoặc điểm IMPROVE là 2 hoặc 3 cộng với mức D-dimer huyết tương ≥  2 lần giới hạn trên bình thường (được xác định theo tiêu chuẩn phòng thí nghiệm tại địa phương) được cho tại thời điểm xuất viện  hoặc với Rivaroxaban một lần mỗi ngày với liều 10 mg (với liều điều chỉnh cho suy thận) hoặc với giả dược trong vòng 45 ngày. Kết cục chính về hiệu quả là tiêu chí gộp của huyết khối tĩnh mạch có triệu chứng hoặc tử vong do huyết khối tĩnh mạch. Kết quả chính về an toàn là chảy máu nặng

 

KẾT QUẢ

Trong số 12.024 bệnh nhân được phân ngẫu nhiên, 12.019 đã được đưa vào phân tích intention-to-treat. Kết cục về hiệu quả chính xảy ra 50 trong số 6007 bệnh nhân (0.83%) được dùng rivaroxaban và 66 trong số 6012 bệnh nhân (1.10%) được cho dùng giả dược (HR  0.76; khoảng tin cậy 95% [CI], 0.52 đến 1.09; P = 0.14). Kết cục thứ phát được xác định trước của huyết khối tĩnh mạch không tử vong có triệu chứng xảy ra ở 0.18% bệnh nhân thuộc nhóm rivaroxaban và 0.42% bệnh nhân ở nhóm giả dược (HR 0.44; KTC 95%, 0.22 đến 0.89). Xuất huyết nặng xảy ra ở 17 trong 5982 bệnh nhân (0.28%) ở nhóm rivaroxaban và 9 trong số 5980 bệnh nhân (0.15%) ở nhóm giả dược (HR 1.88; KTC 95%, 0.84 đến 4.23).

 

KẾT LUẬN

Rivaroxaban, được cho ở những bệnh nhân trong vòng 45 ngày sau xuất viện, không liên quan đến làm giảm có ý nghĩa nguy cơ huyết khối tĩnh mạch có triệu chứng và tử vong do huyết khối tĩnh mạch hơn giả dược. Tỷ suất mới mắc của chảy máu nặng là thấp.

 

Nguồndịch: N Engl J Med 2018;379:1118-27

 

BỆNH NHÂN RUNG NHĨ NÀO NÊN NHẬN ĐIỀU TRỊ KHÁNG ĐÔNG?

 

Rung nhĩ trong dân sốchung

Rung nhĩ là rối loạn nhịp tim phổ biến nhất ở người cao tuổi và là nguyên nhân hàng đầu gây đột quỵ và thuyên tắchệ thống. Mặc dù rung nhĩ được phân loại trên lâm sàng theo thời gian như là kịch phát, dai dẳng, hoặc vĩnh viễn, nguy cơ huyết khối thuyên tắc dường như là giống nhau giữa các loại này.

Đọc tiếp...

Bài Xa lộ Thông Tin lần này xin hân hạnh tiếp tục gửi đến quý độc giả 2 thông tin mới.Đầu tiên, chúng ta sẽ cùng theo dõi liệu việc dùng đồng thời DOACs và Amiodarone (một chất ức chế quá trình chuyển hóa của DOACs) trên bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim có ảnh hưởng gì đến kết cục lâm sàng?

Đọc tiếp...

Trang XA LỘ THÔNG TIN kỳnày hân hạnh gửi đến quý độc giả 2 thông tin mới: Đầu tiên là một nghiên cứu thế giới thực mới, đánh giá về hiệu quả và độ an toàn của các NOACs so với warfarin trên bệnh nhân rung nhĩ không do van tim kèm thể trạng suy nhược, được xuất bản tháng 4 năm 2018 trên tạp chí JAHA (Journal of American Heart Association). Tiếp theo, là thông tin về một chất đối kháng thuốc ức chế Xa mới, vừa được phê duyệt vào tháng 5 năm 2018 bởi FDA.

Đọc tiếp...

Bài Xa lộ Thông Tin lần này kính gửi đến quý độc giả phần lược dịch từ hai nghiên cứu vừa được xuất bản trên tạp chí uy tín New England Journal of Medicine.

Đọc tiếp...

Tại Hội nghị thường niên của Hội Nhịp Tim học Châu Âu vừa qua, vào ngày 19/3/2018, hướng dẫn thực hành sử dụng NOACs cho các bệnh nhân rung nhĩ đã được cập nhật lần thứ 2 sau bản đầu tiên được công bố năm 2013. Chuyên mục Xa Lộ Thông Tin lần này xin cập nhật những thay đổi chính trong khuyến cáo EHRA 2018.

Đọc tiếp...

NGHIÊN CỨU TRIUMPH: VIÊN PHỐI HỢP LIỀU THẤP BA THUỐC – MỘT THÀNH CÔNG TRONG ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP

Đọc tiếp...

Chuyên mục Xa Lộ Thông Tin tháng 3 lần này rất hân hạnh mang đến với quý đọc giả hai nghiên cứu mới, được trích dịch từ hai tạp chí nổi tiếng The New England Journal of Medicine và The Lancet.

 

1.  TRIỆT PHÁ RUNG NHĨ QUA CATHETER Ở BỆNH NHÂN SUY TIM

 

Cơ sở

Bệnh suất và tử suất ở những bệnh nhân bị suy tim có rung nhĩ sẽ cao hơn so với những người chỉ bị suy tim đơn thuần. Triệt phá rung nhĩ qua catheter đã được đề xuất là một phương tiện có cải thiện kết cục ở những bệnh nhân suy tim đã được điều trị thích hợp với những phương pháp khác.

Phương pháp

Nghiên cứu phân ngẫu nhiên các bệnh nhân rung nhĩ kịch phát hoặc rung nhĩ dai dẳng có triệu chứng những người đã không đáp ứng với thuốc chống loạn nhịp, không chấp nhận tác dụng phụ, hoặc không muốn dùng các loại thuốc này sẽ vào một trong hai nhóm, hoặc được triệt phá rung nhĩ qua catheter (179 bệnh nhân) hoặc được điều trị nội khoa rung nhĩ (kiểm soát nhịp tim hoặc tần số) (184 bệnh nhân) bên cạnh các liệu pháp điều trị suy tim theo khuyến cáo hiện hành. Tất cả các bệnh nhân đều có suy tim NYHA II, III, hoặc IV, phân suất tống máu thất trái ≤ 35% và một máy ICD. Kết cục chính là tiêu chí gộp của tử vong do mọi nguyên nhân hoặc nhập viện vì suy tim xấu đi.

Kết quả

Qua theo dõi trung vị 37.8 tháng, kết cục gộp chính xảy ra thấp hơn có ý nghĩa ở nhóm bệnh nhân triệt phá rung nhĩ qua catheter so với nhóm bệnh nhân điều trị nội khoa (51 bệnh nhân [28.5%] so với 82 bệnh nhân [44.6%], HR 0.62; KTC 95% = 0.43 – 0.87; P = 0.007). Trong nhóm triệt phá rung nhĩ qua catheter thấp hơn có ý nghĩa về tử vong do mọi nguyên nhân (24 [13.4%] so với 46 [25.0%], HR 0.53; KTC 95% = 0.32 – 0.86; P = 0.01), nhập viện vì suy tim nặng hơn (37 [20.7%] so với 66 [35.9%]; HR 0.56; KTC 95% = 0.37 – 0.83; P = 0.004), hoặc tử vong do nguyên nhân tim mạch (20 [11.2%] so với 41 [22.3%], tỷ số nguy cơ, HR 0.49, KTC 95% = 0.29 - 0.84; P = 0.009).

Kết luận

Triệt phá rung nhĩ qua catherter ở bệnh nhân suy tim đi kèm với tần suất thấp hơn có ý nghĩa so với chỉ điều trị nội khoa về kết cục gộp của tử vong do mọi nguyên nhân hoặc nhập viện vì suy tim nặng.

 

Nguồndịch: N Engl J Med 2018;378:417-27

 

 

2.  Thời điểm tối ưu của chiến lược xâm lấn ở bệnh nhân bị hội chứng vành cấp không ST chênh lên: 1 phân tích gộp các thử nghiệm lâm sàng

 

Cơ sở

Chiến lược xâm lấn thường quy được khuyến cáo cho những bệnh nhân bị hội chứng vành cấp ST không chênh (NSTE-ACS). Tuy nhiên, thời gian tối ưu của chiến lược xâm lấn ít được định nghĩa rõ ràng. Các thử nghiệm lâm sàng riêng lẻ không đủ mạnh để phát hiện một lợi ích về tử vong. Do đó chúng tôi đã thực hiện 1 phân tích gộp để đánh giá tác động của thời gian can thiệp trên tỷ lệ tử vong.

Phương pháp

Chúng tôi đã xác định các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng so sánh chiến lược xâm lấn sớm so với một chiến lược trì hoãn ở bệnh nhân có NSTE-ACS bằng cách tìm kiếm MEDLINE, Danh bạ các thử nghiệm có đối chứng đăng ký trung tâm Cochrane, và Embase. Chúng tôi đã đưa vào phân tích các thử nghiệm có báo cáo tử vong do mọi nguyên nhân ít nhất 30 ngày sau phân bố ngẫu nhiên trong viện và trong đó các nhà nghiên cứu thử nghiệm đã đồng ý hợp tác (ví dụ cung cấp dữ liệu cá nhân bệnh nhân hoặc các bảng số liệu chuẩn). Chúng tôi gộp tỷ lệ nguy cơ (HRs) bằng sử dụng các mô hình tác động ngẫu nhiên. Phân tích gộp này được đăng ký tên PROSPERO (CRD42015018988).

Dấu hiệu tìm thấy

Chúng tôi đưa vào 8 thử nghiệm (n = 5324 bệnh nhân) với thời gian theo dõi trung vị là 180 ngày (IQR 180-360). Nhìn chung, không có giảm tử vong đáng kể ở nhóm can thiệp sớm so với nhóm can thiệp muộn HR 0.81, 95% CI 0.64-1.03; p = 0.0879). Trong các phân tích được xác định trước trên những bệnh nhân có nguy cơ cao, phân tích ghi nhận tử vong thấp hơn khi thực hiện chiến lược can thiệp sớm ở bệnh nhân có dấu ấn tim tăng (HR 0.761, 95% CI 0.581-0.996), đái tháo đường (0.67; 0.45 - 0.99), có điểm số nguy cơ GRACE > 140 (0.70; 0.52 – 0.95) và > 75 tuổi (0.65; 0.46 – 0.93) , mặc dù xét nghiệm cho tương tác không kết luận.

Diễn giải

Chiến lược can thiệp sớm không làm giảm tử vong so với chiến lược can thiệp muộn ở tất cả các bệnh nhân có NSTE-ACS. Tuy nhiên, chiến lược can thiệp sớm có thể làm giảm tử vong ở những bệnh nhân có nguy cơ cao.

 

Nguồndịch: Lancet. 2017;390(10096):737. Epub 2017 Aug 1

Trong tháng 11 và tháng 12 năm 2017 vừa qua, tại Mỹ đã diễn ra 2 Hội nghị lớn là Hội nghị Tim mạchhọcHoa Kỳ (AHA) và Hội nghị Huyết học Hoa Kỳ (ASH) - với nhiều nghiên cứu mới về thuốc kháng đông được công bố. Trong đó phải kể đến nghiên cứu Select-D(một thử nghiệm pha III phân nhóm ngẫu nhiên giữa rivaroxaban và Dalteparin)và nghiên cứu thế giới thực, phân tích hồi cứu cỡ lớn trên dân số VTE có ung thư ở Mỹ.

Đọc tiếp...

LIỆU PHÁP TIÊU HUYẾT KHỐI TRỰC TIẾP QUA CATHETER BẰNG DƯỢC-CƠ HỌC CHO HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH SÂU

Cơ sở

Hội chứng hậu huyết khối thường phát triển ở những bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch sâu đoạn gần mặc dù được điều trị bằng thuốc kháng đông.

Đọc tiếp...

Đọc tiếp...

Tóm tắt khuyến cáo năm 2017 về phòng ngừa, phát hiện, đánh giá và xử trí tăng huyết áp ở người lớn của ACC/AHA/AAPA/ABC/ACPM/AGS/APhA/ASH/ASPC/NMA/PCNA-2017

1.    Định nghĩa đo HA

-HA tâm thu (HATT): tiếng Korotkoff đầu tiên

-HA tâm trương (HATTr): tiếng Korotkoff thứ 5

Đọc tiếp...